Thâm hụt thương mại: Người Mỹ tiêu thụ quá mức, hay có “thu nhập ngầm”?

Châu Thanh Vũ
Harvard, 9/12/2018

Có một cách khác để hiểu thâm hụt thương mại của Mỹ: Mỹ có thể liên tục nhập siêu, tiêu thụ nhiều hơn tự mình sản xuất vì phần còn lại của thế giới đang cần phải chi trả cho Mỹ tiền công của một “dịch vụ” mà Mỹ cung cấp cho thế giới. 

Có một lý do vì sao từ “dịch vụ” lại được đặt trong ngoặc kép. Thông thường, việc xuất khẩu các loại hình dịch vụ mà chúng ta biết đến – du lịch, tư vấn, tài chính, kế toán – đều được tính vào con số xuất khẩu được dùng để tính thâm hụt thương mại, do đó không thể là câu trả lời cho câu hỏi của chúng ta.

Loại hình “dịch vụ” của Mỹ mà tôi đang muốn nói tới là một dạng dịch vụ tài chính – bảo hiểm, không phải là hợp đồng rõ ràng mua từ các công ty tài chính – bảo hiểm của Mỹ mà chúng ta biết, mà là một dịch vụ được cung cấp ngầm thông qua danh mục đầu tư quốc tế của các quốc gia. 

Dịch vụ tài chính – bảo hiểm

Một điều không thể chối cãi là hệ thống tài chính của Mỹ tốt hơn nhiều so với phần còn lại của thế giới. Điều này sẽ thể hiện qua khả năng huy động vốn của các tổ chức tài chính của Mỹ cho các dự án đầu tư lớn – tốt hơn so với phần còn lại của Thế giới. (Có thể vì – trong vô vàn lý do khác – các nước khác chưa có một hành lang luật pháp đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư cá nhân.) Vì lý do đó, ở các nước đang phát triển, nguồn cung vốn ít hơn, khiến lãi suất nội địa rất cao. 

Thử tưởng tượng 2 nước: Mỹ và Trung Quốc. Mỹ có một nền tài chính phát triển hơn, thu hút được nhiều vốn đầu tư hơn, và với nguồn cung vốn dồi dào, lãi suất nội địa của Mỹ thấp hơn so với Trung Quốc. Khi hai nước này mở cửa hệ thống tài chính và đón nhận vốn ngoại, sẽ có một luồng vốn chảy từ nước có lãi suất nội địa thấp hơn (Mỹ) sang nước có lãi suất nội địa cao hơn (Trung Quốc), do nguồn vốn đầu tư dồi dào của Mỹ sẽ muốn tìm kiếm các khoản đầu tư trả lãi cao hơn ở Trung Quốc.

Trên thực tế, sẽ có nhiều loại chứng khoán với các loại rủi ro khác nhau. Sẽ có những loại đầu tư rất an toàn (trái phiếu ngắn hạn của chính phủ Mỹ), và cũng có các loại đầu tư rất rủi ro (ví dụ: một công ty cỡ vừa ở Trung Quốc). Trong trường hợp này, khi hai nước mở cửa và hội nhập tài chính, những nhà đầu tư Trung Quốc, với hệ thống tài chính kém phát triển hơn, sẽ muốn đổ tiền vào các đầu tư an toàn ở Mỹ. Trong khi đó, hệ thống tài chính Mỹ, với khả năng đương đầu rủi ro có khả năng  sẽ muốn vươn ra đầu tư vào các công ty rủi ro hơn và cho lãi suất cao của Trung Quốc.

Đó là dịch vụ tài chính, còn Mỹ cung cấp “bảo hiểm” cho Trung Quốc và các nước khác như thế nào? Ở đây không phải là dịch vụ bảo hiểm cung cấp bởi các công ty của Mỹ, mà đang nói về một khía cạnh “bảo hiểm ngầm” hơn: sự an toàn của đồng USD.

Dịch vụ “bảo hiểm” này diễn ra dưới dạng một hợp đồng ẩn như sau. Như đã nói ở trên, sau khi hội nhập kinh tế, Mỹ sẽ có nhiều đầu tư rủi ro dưới dạng FDI hoặc đầu tư danh mục (portfolio flows – ví dụ như mua nợ hoặc cổ phiếu của các công ty). Các khoản đầu tư này thường được tính bằng tiền bản địa. Ngược lại, các nước khác giữ phần lớn đầu tư vào Mỹ dưới dạng tài sản an toàn. 

Trong thời kỳ bình thường, tăng trưởng tốt, Mỹ đầu tư rủi ro hơn sẽ được lãi cao hơn. Phần lãi này sẽ nằm dưới dạng lãi vốn (việc tăng giá cổ phiếu hoặc chứng khoán nợ của các công ty). Ngược lại, các nước khác đầu tư vào Mỹ an toàn hơn nên được lợi nhuận thấp hơn. Điều này giống như các nước khác đang “trả tiền” cho Mỹ để Mỹ chịu xử lý các khoản đầu tư rủi ro hơn của nước mình. Phần “trả tiền” này không nằm trong thống kê thương mại, nhưng người Mỹ hoàn toàn có thể dùng phần tài sản này để mua hàng hoá của thế giới.

Do đó, chúng ta thấy “thâm hụt thương mại”, nhưng đây không phải là người Mỹ xài đồng tiền họ không có, mà là người Mỹ đang tiêu xài từ một khoản thu nhập khác mà người ta thường bỏ qua.

Để kết thúc phần so sánh Mỹ như một công ty bảo hiểm: Trong các cuộc khủng hoảng toàn cầu, đồng USD thường tăng giá trị rất nhanh. Điều này rất lợi cho các nước khác, vốn dĩ đầu tư nhiều vào đồng đô Mỹ. Ngược lại, các công ty nước ngoài tụt giảm giá trị (do đầu tư bằng đồng tiền địa phương), khiến Mỹ bị nghèo đi. Sự chuyển giao tài sản từ Mỹ sang các nước khác trong cuộc khủng hoảng như thế này cũng giống cách một công ty bảo hiểm trả lại tiền bảo hiểm cho khách hàng khi sự cố xảy ra với họ.

Dữ liệu nói gì?

Dữ liệu thực tế có ủng hộ lý thuyết “Mỹ là công ty bảo hiểm” mà tôi vừa nêu lên hay không?

Câu trả lời là có. Khoảng 60% tài sản của Mỹ sở hữu bởi nước ngoài là dưới dạng trái phiếu Mỹ – rất an toàn và lãi suất cực thấp (gần 0-2%), trong khi Mỹ lại sở hữu rất nhiều tài sản nước ngoài như FDI hoặc đầu tư danh mục (portfolio investment), trả lợi tức đầu tư từ 6 – 10% mỗi năm! Thử tính nhẩm: Mỹ nợ nước ngoài vào khoảng 33 nghìn tỉ USD, trong khi sở hữu khoảng 25 nghìn tỉ USD tài sản của nước ngoài (số liệu từ BEA). Thử áp dụng mức lợi tức 2% cho nợ và 6% cho tài sản nước ngoài, mỗi năm Mỹ kiếm được:

25000*6%-33000*2%=840 tỉ USD

chỉ từ việc đầu tư rủi ro ở nước ngoài.

Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là Mỹ hoàn toàn có thể chi trả cho mức thâm hụt thương mại hiện nay (vào khoảng 500 tỉ USD) mà không ảnh hưởng đến tài sản quốc gia.

Đồ thị dưới đây (từ một nghiên cứu bởi Rey và Gourinchas [5]) cho thấy tổng thâm hụt tài khoản lãng vai của Mỹ (Cumulated CA – khá xấp xỉ thâm hụt thương mại) so với thay đổi trong tài sản ròng ngoài nước (Net Foreign Asset – NFA) của Mỹ. Rõ ràng có thể thấy rằng mặc dù Mỹ tiêu thụ và thâm hụt thương mại rất nhiều (đường đỏ), tài sản của Mỹ (xanh) giảm đi ít hơn nhiều.

Đồ thị: Rey và Gourinchas, Handbook of International Economics, 2014.

Có thể thấy rằng lời giải thích này đã “lý giải được một nửa” phần thâm hụt thương mại mà chúng ta đặt ra từ đầu.

Nhưng một nửa vẫn còn lại: sự thật là tài sản của Mỹ vẫn trên đà giảm từ năm 1970, và đã giảm đáng kể. Đúng là Mỹ có thể tiêu thụ nhiều hơn hàng hoá nước ngoài nhờ vào hoạt động cung cấp dịch vụ bảo hiểm và tài chính, nhưng nếu đây là lý do duy nhất, thì chúng ta không nên thấy tài khoản của Mỹ bị sụt giảm. Chúng ta còn giải thích gì?

Ở kỳ cuối của chuỗi bài viết này, “Thâm hụt thương mại chỉ là ảo giác?“, tôi sẽ đưa ra một luận điểm cuối cùng để lý giải thâm hụt thương mại của Mỹ và sự sụt giảm tài sản quốc gia của Mỹ. Bài viết sẽ được đăng trên blog chauthanhvu.com vào Chủ nhật, ngày 16/12/2018.


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s