Đằng sau Thâm hụt Thương mại Mỹ (Kỳ 1): Trump và Tư Duy từ 500 Năm Trước

Châu Thanh Vũ
Harvard, 2/12/2018

Một trong những vấn đề nổi cộm nhất của năm 2018 là những cuộc chiến tranh thương mại của TT Donald Trump với các đối tác lớn: Mỹ, Đức, Canada, Mexico, vv. Lý do chính là Trump tố cáo các đối tác giao thương “không công bằng”, phá giá đồng tiền (ví dụ: giữ đồng nhân dân tệ yếu để hàng hoá Trung Quốc rẻ hơn), đánh cắp công nghệ, khiến cho xuất khẩu của Mỹ bị trì trệ, không bì kịp với lượng hàng Mỹ nhập khẩu. Hậu quả, như Trump thường xuyên cáo buộc, là lượng thâm hụt thương mại khổng lồ của Mỹ qua nhiều thập niên gần đây. Đọc kỹ hơn về phần giới thiệu vấn đề thâm hụt thương mại của Mỹ tại đây.

Trong kỳ 1 này, tôi bắt đầu bằng việc phân tích vì sao tư duy “xuất khẩu là tốt, nhập khẩu là xấu” –  tư duy phổ biến của các chính trị gia và báo chí – là rất lỗi thời và có nhiều lỗ hổng. Hoá ra, đây là một tư duy đã phổ biến từ những năm 1400 ở châu Âu, và đã gặp nhiều chỉ trích qua thời gian.

Chủ Nghĩa Trọng Thương 

Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, hệ tư tưởng kinh tế chính của châu Âu có tên là Chủ nghĩa Trọng Thương (viết tắt: CNTT – tiếng Anh: mercantilism – nghĩa là chú trọng vào thương mại). Chủ nghĩa này đề xuất các chính sách tăng cường xuất khẩu và hạn chế hết sức nhập khẩu, nhằm thu về càng nhiều vàng bạc cho ngân khố quốc gia càng nhiều càng tốt.

Tuy nhiên, kể từ thế kỷ 18, CNTT gặp rất nhiều chỉ trích và ngừng là tư tưởng chủ đạo của phương Tây.

Chỉ trích của chủ nghĩa trọng thương

Chỉ trích thứ nhất là CNTT quên đi “lợi thế tương đối” của một quốc gia. Thử giả sử nước Mỹ có thế mạnh để sản xuất ô tô, nhưng không có thế mạnh sản xuất thép. Một người theo CNTT sẽ đề xuất Mỹ làm hoàn toàn chiếc ô tô trong nước, từ khâu sản xuất thép đến khâu ráp ô tô để tối đa xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Nhưng đây không phải là điều tối ưu. Mỹ sẽ tốt hơn nếu tập trung 100% làm điều Mỹ có thế mạnh, đó là sản xuất ô tô, sử dụng thép nhập khẩu thay vì tự sản xuất và sử dụng thép nội địa mua với giá cao hơn.

Chỉ trích thứ hai cho rằng chính sách này không bền vững. Lý do là lượng vàng bạc tích tụ được do xuất khẩu quá nhiều sẽ làm tăng lượng tiền trong nền kinh tế và tạo ra lạm phát trong nước. Giá hàng hoá nội địa sẽ ngày càng đắt so với giá hàng nhập khẩu, khiến nhập khẩu trở nên hấp dẫn, phản lại tác dụng của các chính sách hạn chế nhập khẩu. [1]

Chỉ trích cuối cùng và cơ bản nhất là: con người tiêu thụ hàng hoá, không phải vàng bạc. Ý tưởng của CNTT cũng giống như một cá nhân nhịn ăn, nhịn mặc, dùng hết nguồn lực để tạo ra hàng hoá buôn bán cho người khác để tích luỹ vàng suốt đời. Người thông minh là người biết kiếm tài sản và tiêu thụ dần tài sản qua thời gian, chứ không chỉ luôn luôn tích luỹ. Một quốc gia cũng thế.

Sự trở lại của Chủ Nghĩa Trọng Thương 

Chính quyền Trump cũng có vẻ chuộng chính sách phát triển của 6 thế kỉ trước, áp thuế nhập khẩu lên đối tác, cắt thâm hụt thương mại để cuối cùng người chịu ảnh hưởng là người Mỹ: phải mua từ thép đến thức ăn trong siêu thị với giá cao hơn. Mỹ sẽ thu nhiều tiền hơn từ xuất khẩu, trong khi lượng hàng hoá Mỹ có thể tiêu thụ được lại giảm đi.

Một trong ví dụ về tác hại của chiến tranh thương mại của Trump là giá thuế áp lên thép nhập khẩu của Trump đã tăng giá sản xuất cho General Motors, công ty sản xuất ô tô hàng đầu của Mỹ, lên hơn 1 tỉ đô mỗi năm. Đây là một yếu tố thúc đẩy việc General Motors vừa đóng cửa 5 xưởng sản xuất ô tô ở Mỹ và Canada, cắt giảm 15,000 việc làm.

Nói tóm lại, mặc dù luồng tư tưởng “xuất khẩu là tốt, nhập khẩu là xấu” đã không còn là tư tưởng chủ đạo trong chính sách giao thương từ 3 thế kỉ trước, tư tưởng này dường như vẫn còn khá phổ biến, và dường như đang quay trở lại. [2]

Xuất siêu khi “giàu”, nhập siêu khi “nghèo”

Chúng ta đã chỉ trích nhiều Chủ Nghĩa Trọng Thương, phản đối việc tập trung tài sản thay vì tiêu dùng. Vậy chính sách tập trung vào tối ưu tiêu dùng sẽ trông như thế nào?

Để đơn giản hoá vấn đề, thử tưởng tượng quốc gia như một gia đình. Mục tiêu cuối cùng của làm việc, tích luỹ, đầu tư, chi tiêu là tối đa sự hưởng thụ từ việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ (bao gồm mọi thứ từ nhà cửa, du lịch, thức ăn, đồ gia dụng, …). Và bạn không chỉ lên kế hoạch cho một ngày, mà lên kế hoạch cho cả tương lai (hy vọng thế). Mỗi tháng, bạn sẽ phải cân bằng thu chi dựa vào lượng tài sản mình đang có và thu nhập mới:

Tiêu dùng + tài sản giữ cho ngày mai = thu nhập + lãi suất từ đầu tư + tài sản sẵn có

(Nếu tài sản là âm, bạn đang mang nợ.)

Vậy điều tốt nhất cần làm là gì? Bỏ qua phần toán phức tạp (và nhân tử Lagrange – điều mà bạn hoàn toàn không cần biết), lời giải của bài toán này rất đơn giản. Điều cần làm là chi nhiều hơn thu vào những tháng thu nhập thấp hơn trung bình, và chi ít hơn thu (tiết kiệm) vào những tháng thu nhập cao hơn trung bình.

Đối với một quốc gia cũng thế. Khái niệm chi nhiều hơn thu đồng nghĩa với thâm hụt thương mại (chính xác hơn là thâm hụt tài khoản lãng vai, nhưng chúng ta tạm xem 2 khái niệm này là một).

Trong những lúc nền kinh tế gặp khó khăn hoặc phát triển chậm hơn bình thường, nền kinh tế có thể chọn chi nhiều hơn thu để tiêu dùng và đầu tư phát triển, tạo nên thâm hụt thương mại. Ngược lại, trong những năm thuận lợi và giàu có, nền kinh tế nên xuất khẩu, giảm nhập khẩu, tạo ra thặng dư thương mại, tăng tài sản quốc gia.

Dưới góc nhìn này, thâm hụt thương mại không phải là điều gì xấu, mà chỉ là phản ứng tối ưu của một quốc gia của một nền kinh tế đang gặp khó khăn mà thôi. 

Có thể giải thích thâm hụt thương mại tạm thời, không phải thâm hụt thương mại lâu dài

Cách giải thích thâm hụt/thặng dư thương mại của một quốc gia này có tên là “Thuyết Cân bằng Tài Khoản Vãng Lai qua Thời Gian” (Tiếng Anh: Intertemporal approach to the current account). Lý thuyết này trở nên rất phổ biến trong giới kinh tế tài chính, và trở thành điều đầu tiên nhiều người nghĩ đến khi phải bình luận về thương mại – tài chính quốc gia. (Người đề xuất ra thuyết này là Ken Rogoff và Maurice Obstfeld – thầy Ken Rogoff là 1 trong 3 người trong Hội đồng PhD của mình.) 

Điểm yếu của lời giải thích này? Mỹ đã thâm hụt thương mại được gần 30 năm! Lời giải thích trên có thể giải thích chu kỳ kinh tế, bấp bênh của vài quý đến vài năm. Nhưng với một vấn đề kinh niên như thâm hụt thương mại của Mỹ, có lẽ chúng ta cần một lời giải thích khác “kinh niên” hơn.

—–

Để hiểu về một lời giải thích phù hợp hơn cho thâm hụt thương mại của Mỹ, xin hãy đón đọc kỳ 2 của chuỗi bài này: “Mỹ: Công ty Tài chính – Bảo hiểm của mọi quốc gia”, sẽ được đăng vào 9h sáng Chủ Nhật tuần sau (9/12/2018).

One Reply to “Đằng sau Thâm hụt Thương mại Mỹ (Kỳ 1): Trump và Tư Duy từ 500 Năm Trước”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s